Cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) là loài có vây cứng, sắc nhọn nên dễ tổn thương trong quá trình đánh bắt, vận chuyển cũng như thực hiện thao tác nghiên cứu. Gây mê là một phương án tiềm năng để khắc phục vấn đề trên, đồng thời hướng tới an sinh động vật thủy sản. Azaperone là hợp chất có tác dụng an thần, giảm đau và gây mê cho động vật trong quá trình vận chuyển cũng như thao tác kỹ thuật và chưa có công bố thử nghiệm trên cá nheo Mỹ.
Cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) du nhập vào Việt Nam từ những năm 2010. Với ưu điểm về tốc độ tăng trưởng, khả năng thích nghi và giá trị kinh tế cao nên cá nheo Mỹ dần trỏ thành loài phổ biến ồ khu vực phía Bắc và đang được nuôi thử nghiệm ở nhiều tỉnh thành trên cả nước (Kim Văn Vạn, 2017; Trương Đình Hoài & cs., 2020; Vũ Đức Mạnh & cs., 2022). Từ năm 2022, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 đã hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá nheo Mỹ và chuyển giao đến nhiều tỉnh thành, từ đó giúp làm giảm áp lực phụ thuộc vào nguồn giống nhập ngoại. Tuy nhiên, công nghệ vận chuyển vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Các phương pháp vận chuyển phổ biến hiện nay bao gồm vận chuyển bằng phương tiện thô sơ và vận chuyển bằng túi PE hay PVC bơm oxy (Vũ Đức Mạnh & cs., 2024). Bên cạnh đó, cá nheo Mỹ cũng là loài có vây cứng, sắc nhọn, dễ làm tổn thương cá thể cùng đàn khi đưa vào không gian hẹp. Các đặc điểm này gây ra nhiều rủi ro, ảnh hưồng đến tỉ lệ sống của cá khi vận chuyển bằng các phương pháp truyền thống. Ngoài ra, cá thí nghiệm thường hoảng sợ và có phản ứng mạnh gây khó khăn cho quá trình thực hiện thao tác nghiên cứu.
Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã phát triển ứng dụng gây mê trong đánh bắt và vận chuyển động vật thủy sản. Đây là một trong những phương pháp để giảm thiểu stress ồ cá trong nuôi trồng thủy sản (Neiffer & Stamper, 2009). Việc sử dụng thuốc gây mê cá có thể ngăn ngừa tổn thương cơ thể và làm giảm quá trình trao đổi chất trong khi vận chuyển (giảm tiêu thụ oxy và chất bài tiết) (Burka & cs., 1997; Charoendat & cs., 2009). Đã có nhiều loại thuốc gây mê mang lại hiệu quả, an toàn và tỉ lệ chết thấp khi sử dụng trên cá nheo Mỹ như dầu đinh hương, MS-222 và propofol (Waterstrat, 1999; Small, 2003; Welker & cs., 2007; Priborsky & Velisek, 2018). Tại Việt Nam, cá nheo Mỹ thường được đánh bắt, vận chuyển bằng các thiết bị đơn sơ dẫn đến hao hụt nhiều trong quá trình vận chuyển ra ao hay lồng bè, do vậy cần có những biện pháp để kiểm soát. Trong khi đó, gây mê là một biện pháp hiệu quả nhưng chưa được sử dụng phổ biến. O một khía cạnh khác, gây mê cũng được ứng dụng nhiều trong quá trình giải phẫu động vật thủy sản nhằm hạn chế rủi ro tai nạn cho ngưòi thực hiện. Xa hơn nữa, gây mê động vật thủy sản trước khi thực hiện các thao tác kỹ thuật nhằm đảm bảo phúc lợi cho động vật (Zahl & cs., 2012). Do vậy, cần có thêm nghiên cứu về gây mê động vật thủy sản để ứng dụng vào thực tiễn.
Azaperone là một dẫn xuất butyrophenone, có tính chất a-adrenergic, cấu trúc hóa học là (1- (4-fluorophenyl)-4-[4-(2-pyridinyl)-l-piperazin- yl]-l-butanone). Thuốc được sử dụng cho lợn để ngăn ngừa stress, sụt cân và chết trong quá trình vận chuyển (Sams & cs., 1996). Trên đôì tượng thủy sản, Azaperone làm giảm phản ứng kích động của cá mập nhám (Squalus acanthiaà) mà không gây suy giảm vận động thông qua cơ chế ngăn chặn các thụ thể Dopaminergic-Ing (Latas, 1987). Với cơ chế tương tự, Azaperone cũng có thể làm giảm kích động, hô hấp và vận động của động vật thủy sản khác trong quá trình vận chuyển. Tại Việt Nam, Azaperone có giá thành thấp và thưòng được sử dụng trên gia súc. Vũ Đức Mạnh & cs. (2024) đã thử nghiệm gây mê trên đối tượng cá có vẩy là rô phi vằn (Oreochromis niloticus) bằng Azaperone và thu được kết quả khả quan. Tuy nhiên, hiện tại chưa có công bố chính thức về khả năng sử dụng Azaperone làm chất gây mê trên cá da trơn.
Nghiên cứu thử nghiệm sử dụng Azaperone gây mê cá nheo Mỹ bằng phương pháp ngâm bao gồm 3 thí nghiệm: xác định độc tính cấp tính, khả năng và nồng độ gây mê. Kết quả xác định được giá trị LC50-96 giờ là 1,731ppm (ở điều kiện nhiệt độ môi trường 26-28 ° C, pH = [7,5-7,9], DO > 5,0 mg/l). Hành vi bơi lội, khả năng thăng bằng và tốc độ hô hấp của cá thay đổi qua các giai đoạn của quá trình gây mê. Nồng độ 20ppm là phù hợp cho gây mê cá nheo Mỹ trong 20 phút với nhiều mục đích khác nhau, trong đó có giải phẫu và vận chuyển.
