Ngày hiện tại:

Ảnh hưởng của mật độ cây bách thủy tiên (Echinodorus cordifolius) đến khả năng sinh trưởng và hiệu suất xử lý nước thải đô thị

Ảnh hưởng của mật độ cây bách thủy tiên (Echinodorus cordifolius) đến khả năng sinh trưởng và hiệu suất xử lý nước thải đô thị

Ảnh hưởng của mật độ cây bách thủy tiên (Echinodorus cordifolius) đến khả năng sinh trưởng và hiệu suất xử lý nước thải đô thị

Chất lượng nước mặt trong các kênh đô thị bị suy giảm do ô nhiễm hữu cơ và giàu dinh dưỡng từ các hoạt động xả nước thải và chất thải rắn sinh hoạt và hoạt động kinh doanh của các hộ sống dọc theo kênh (Trần Sỹ Nam & cs., 2022). Do đó, cần có giải pháp làm giảm nồng độ các chất ô nhiễm trong các kênh đô thị. Mô hình bè nổi thủy sinh kết hợp trồng thực vật hứa hẹn là mô hình xử lý nước thải mang tính bền vững trong tương lai (Ngô Thụy Diễm Trang & cs., 2023). Vai trò của thực vật trong vùng ĐNN là cung cấp môi trường thích hợp cho vi sinh vật thực hiện quá trình phân hủy sinh học (hiếu khí) cư trú, vận chuyển oxy vào vùng rễ, hấp thu chất ô nhiễm (Brix, 1997). Có nhiều loại cây có thể sử dụng để làm sạch môi trường nước đã được tìm thấy ở Việt Nam như: Lục bình, Thủy trúc, Cát lồi, Bèo tây, Chuối hoa, Bách thủy tiên,... tùy theo loài khác nhau cho hiệu suất xử lý nước thải khác nhau. Mật độ cây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng hiệu suất xử lý (Reddy & cs., 1995; Hu & cs., 2020). Panrare & cs. (2016) ghi nhận mật độ trồng cao hơn ở cây Canna indica L. sẽ cho hiệu suất tốt hơn trong việc loại bỏ COD và DO. Lê Diễm Kiều & cs. (2017) cũng ghi nhận khi trồng cỏ Mồm mỡ với mật độ 20-40 chồi/m2, cây sinh trưởng và hấp thu đạm lân tốt hơn so với mật độ 10 chồi/m2. Saenz-Reyes & cs. (2022) cho thấy tốc độ suy giảm COD của cây Limonium perezzi ở mật độ trồng 15,4 cây/m2 cao hơn so với 10,27 cây/m2. Cây Bách thủy tiên được ghi nhận là loài cây có tiềm năng trong xử lý nước thải (Lê Hoàng Việt & Nguyễn Võ Châu Ngân, 2022; Đào Hoàng Nam & cs., 2023; Võ Thị Phương Thảo, 2023); tuy nhiên, hiện tại chưa có nghiên cứu đánh giá mật độ của Bách thủy tiên lên sinh trưởng và hiệu suất xử lý ô nhiễm trong nước thải đô thị.

Cây Bách thủy tiên (Echinodorus cordifolius) được trồng trên bè nổi xử lý nước thải đô thị với hai mật độ trồng: 1 cây/bè (NT1), 2 cây/bè (NT2) và không cây (đối chứng; NT0). Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 lần lặp lại trong điều kiện nhà lưới. Nước thải được thu trực tiếp tại kênh Búng Xáng, Thành phố Cần Thơ. Chiều cao cây và chiều dài rễ tăng 1,70 và 1,65 lần; 7,07 và 6,93 lần so với cây trồng ban đầu tương ứng NT1 và NT2. Tổng khối lượng cây phần tươi và khô tương ứng ở NT1 (319,9 và 22,8 g/cây ) cao hơn NT2 (260,0 và 17,7 g/cây). Hiệu suất xử lý COD, tổng đạm hòa tan (TIN) và tổng lân (TP) đạt 54,2 > 49,7 > 37,3%; 88,3 > 71,8 > 60,5% và 85,3 > 79,4 > 72,7% tương ứng mật độ trồng 2 cây/bè > 1 cây/bè > không cây. 

Kết quả nghiên cứu cho thấy mật độ ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng và hiệu suất xử lý nước thải của cây Bách thủy tiên, với mật độ 2 cây/bè mang lại hiệu quả xử lý cao hơn. Nghiên cứu mở ra triển vọng ứng dụng cây thủy sinh trong công việc xử lý nước thải và tạo cảnh quan đô thị, góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm nước một cách thân thiện với môi trường. Do đó, các nghiên cứu kế tiếp cần tập trung vào việc cải thiện nồng độ DO và hiệu suất xử lý COD nhằm mở ra hướng ứng dụng hiệu quả hơn mô hình này trong việc xử lý nước thải đô thị.  

Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Số 4 -2025